• Tử vi Đông A

    Định cách cục hành vận Liêm Tham đồng độ cư Hợi

     

     

    Hành vận lưu chuyển là sự biến đổi liên tục của tư tưởng ứng hợp với hoàn cảnh bên ngoài tác động. Xét thiên bàn thuộc tinh hệ Tử Phá cư Mùi hai nhóm sao Tử Phủ Vũ Tướng Liêm và Sát Phá Tham giao hội xung đột. Nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật hoàn chỉnh với bố cục Âm Dương ở thế cường vượng với cách Nhật cư Thìn, Nguyệt cư Tuất chủ sáng. Mệnh cách trong tổ hợp Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham có tính bất ổn định do hoàn cảnh bên ngoài tác động ở tình cảm và sự nghiệp. Liêm Tham đồng độ cư Hợi nhập cung vận thứ nhất tại Mệnh cung thường đánh giá không mấy hay do tính chất khi phối hợp của Tham Lang và Liêm Trinh. Liêm Tham cách cục ngộ Khoa Khúc Binh Khốc đắc vòng Trường Sinh hội Vũ Sát Xương Kỵ Hổ Phượng và Tử Phá Thanh Tuế. Tổ hợp Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham xung đột do tính chất trái nghịch của hai nhóm sao, lại cùng mang Sát tính vượng. Cách cục Vũ Sát hình thành ngộ Xương Kỵ Hổ may mắn không gặp Thiên Hình tại đây nếu không ắt gặp bệnh tật phải mổ xẻ. Cách Vũ Sát Kỵ Hổ Xương có tính thất kinh, khủng hoảng cách. Liêm Tham bản cung Khoa Khúc có tính cát hóa mạnh, chủ hình thành cách cục hiểu biết, Hóa Khoa là đệ nhất giải thần do tính chất hiểu biết, khoa học tránh được tai họa. Can Tân với Văn Khúc hóa Khoa càng tăng cường tính chất hiểu biết rộng của mệnh cách. Liêm Tham nhập vận thứ nhất hình thành Văn cách, bố cục nghiên cứu, tính chất khá tốt, giảm tính loạn động xung đột của cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham. Liêm Tham là theo dõi và tham muốn, Liêm Trinh khởi phát tính chất theo dõi, suy xét. Tham Lang có tính chất vạch kế hoạch, cách cục Liêm Tham tại đây khá tốt, tuy nhiên trong nội cách hình thành thế xung đột do tính chất trái nghịch của Liêm Trinh chủ liêm khiết, có tính dò xét, điều tra, thuộc nhóm Tử Vũ Liêm và Tham Lang chủ linh hoạt, lấy lợi ích làm trọng, âm ám thuộc nhóm Sát Phá Tham. 

     

     

    Cách cục Liêm Tham khi đồng độ khiến mệnh cách tư tưởng chịu tác động xung đột của hai Chính Tinh thuộc hai nhóm sao trái nghịch. Hành vận thứ nhất nhập Mệnh cung cách cục Liêm Tham khởi tạo bản tính, Liêm Tham nhập mệnh khúc toàn cố quy tức thường cổ nhân luận suốt đời chỉ thấy khó khăn trắc trở. Tuy nhiên tại đây ngộ Khoa Khúc giải được tính chất xung đột của hai nhóm sao dẫn tới cách cục giảm khuyết điểm. Đại vận thứ hai từ 13 tới 22 nhập cách cục Thái Âm cư Tuất ngộ Kình giao hội Hỏa Kiếp Khôi Việt trong cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương hoàn chỉnh. Âm Kình hội Đồng Lương Hỏa Kiếp là cách cục không mấy hay, gia hội thêm Việt Khôi khiến tổ hợp Cơ Nguyệt Đồng Lương trở nên bất ổn định, đặc biệt về tình cảm và tư tưởng thường loạn động do Âm Kình Hỏa là cách bộc phát, hỏa khí vượng chủ tư tưởng thất thường. Cách cục Đồng Lương cư Dần trong bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương gặp phá cách bởi Hỏa Kình Kiếp. Trong hành vận thứ hai Thái Âm có tính âm nhu, cách Cơ Nguyệt Đồng Lương từ thế ổn định thành biến động, Âm Kình có tính chất táo bạo, do Kình Dương là sao mang ý nghĩa tiến công, khai phá. Cách cục đại vận Thái Âm không mấy hay, may mắn tinh hệ Tử Phá cư Mùi có Âm Dương ở thế cường vượng. Thái Âm tại đây thành cách Âm Kình. Thái Âm có tính chất âm thầm, thầm lặng. Thái Âm còn chủ bóng tối, trái với Thái Dương là sáng. Thái Âm nhập vận trong cách Âm Kình chủ bệnh tật triền miên, chống đỡ bệnh tật, hoặc hóa ứng hợp nhân ly tài tán. Đại vận Thái Âm gặp họa do cách Kiếp Kình Hỏa, chủ tai họa bộc phát, lại cách Âm Tuần là trúng họa. Trong đại vận này không bản thân thì gia đình có biến động. Về sức khỏe không mấy hay. 

     

     

    Qua hành vận Thái Âm lưu tới đại vận Thê cung từ 23 tới 32 với cách cục Phủ Tướng đơn thủ. Thiên Phủ độc tọa cư Dậu ngộ Tồn Tang trong thế Lộc Mã giao trì phát tài viễn quận, là cách phát tài khi kinh thương. Cách cục Lộc Mã Bội Ấn hình thành, Thiên Tướng ngộ Hình Ấn nắm ấn lệnh. Cách cục đại vận này tốt đẹp, chủ kinh thương có thể phát tài ở xa do Thiên Mã ở vị trí tốt lưu động. Phủ Tang Tồn là tích lũy, chủ tài sản có chỗ tụ bất tán, lại có thể xoay vòng do Lộc Mã hình thành ắt Tài cách cường vượng mệnh cách Liêm Tham có tham muốn tuy nhiên sức táo bạo chưa thực lớn, ắt có hạn chế. Cách cục đại vận Thiên Phủ là cách cục tốt. Trong đại vận này Phủ Tướng chủ tình cảm, Thiên Phủ có tính bảo trợ, phủ dụ. Phủ Tang càng tăng mạnh tính linh hoạt, quyền biến, che đậy của Thiên Phủ do Tang Môn chứa tính âm quyền. Cách cục Phủ Tướng tại đây khá tốt, tuy không đủ cách Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoàn chỉnh, cũng không gặp Tả Hữu nhưng sức cát hóa lớn bởi Phủ ngộ Lộc Mã giao trì. Trong đại vận Thiên Phủ kinh thương là hợp cách, Thiên Phủ nhập vận là cách giao long vãn uyên, có tính cẩn trọng, cẩn mật có thể thành tựu, tuy nhiên bản thân sẽ tự lực ít trợ giúp do không gặp Tả Hữu trợ lực tại đây. Qua đại vận Thiên Phủ lưu đại vận tới cung độ VCD cư Thân nội Cự Nhật, ngoại Đồng Lương với Thái Dương nhập vượng tại Thìn cung. Cách cục đại vận này luận tốt. Nội cách Cự Nhật bản cung VCD ngộ Đà Hồng Tả Phụ hội Quyền Lộc Đào Triệt Không. Triệt ngộ Không thành quý. Vận Cự Nhật được Quyền Lộc, chủ khởi lên, dương lên bởi Cự Môn. Cự Nhật có tính khởi tạo. Trong cách cục Cự Nhật gặp Quyền Lộc rất cần thiết tạo thành tựu. 

     

     

    Vận Cự Nhật hội Đào Hồng có nhiều niềm vui, bên ngoài Đồng Lương phúc ấm chủ may mắn khi ra bên ngoài xã hội. ” Tân nhân tối ái Cự Môn” với chính tinh Cự Môn tối hỉ hóa Lộc tai can Tân chủ dùng miệng lưỡi sinh tài lộc, lại cách Cự Nhật có dương tính với Thái Dương hóa thành Quyền tức uy tín, trong đại vận này thuận lợi phát triển sự nghiệp. Thái Dương cường vượng ngộ Triệt chiết giảm tính chất may mắn có Thiên Không đồng độ chủ bất ngờ mà được cơ hội. Tuy nhiên cách cục Cự Nhật cũng có khuyết điểm do  Đà Hao không phù hợp với Cự Nhật như Kình Hao. Đà La chủ trễ, thiên về khuynh hướng nhẫn nhịn, chờ thời, ẩn. Cự Nhật chủ công khai, khởi tạo cái mới, có tính phản đối nếu trong tổ chức hoặc hợp tác. Bản cung Đà La chủ tính âm kim, Đà Hao cũng chủ thay đổi, tuy nhiên có thể sẽ chậm trễ do ý nghĩa của bố cục. Trong đại vận Cự Nhật Đào Hồng Cô Quả nỗ lực trong hành vận sẽ ứng kết quả tức thời. Đây là điểm chú ý khi hành động.  Qua đại vận Tử Tức cung nhập cung vận Tài Bạch từ 43 tới 52. Tử Phá nhập vận ngộ Tuế Thanh Hoa Cái hội Vũ Sát Xương Kỵ Hổ Phượng và Liêm Tham Khoa Khúc. Hành vận chuyển dịch về tam hợp mệnh ở thế Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham. Đây là hành vận phức tạp khi Tử Vi đồng độ Phá Quân là hai chủ tinh của hai nhóm sao. Tử Phá có tính khai sáng lớn, trong đại vận này ắt sẽ thành lập, khai sáng đứng đầu nếu kinh thương. Tử Phá trong cách cục này khai phá trong giai đoạn khó khăn, ắt sẽ tạo mâu thuẫn trong nội bộ hoặc hoàn cảnh khó khăn tác động. Tử Phá ngộ Thái Tuế trong cách Tuế Phượng có lập trưởng lý tưởng rất vững dẫn hóa cách cục. Tuy nhiên Vũ Sát Kỵ Xương giao hội là cách cục có tính khủng hoảng, tức họa do hoàn cảnh bên ngoài tác động. Tử Vi dẫn đầu nhóm Tử Vũ Liêm chủ xây dựng, tính chất gánh vác trách nhiệm, tính ổn định. Phá Quân chủ khai phá, tính chất phá bỏ, ưa thay đổi, tính chất trái nghịch Tử Vi. 

     

     

    Tử Vi ưa gánh vác xây dựng, Phá Quân ưa tìm kiếm khai phá, phá cũ đổi mới. Tử Phá cổ nhân thường luận bất trung bất nghĩa do tính chất của Phá Quân yểm trá. Tuy nhiên thực tế bố cục Tử Phá ở giai đoạn xã hội hiện tại có khả năng linh hoạt trước thời thế, hiềm nỗi Vũ Sát tại tam hợp chiếu xấu dẫn tới nhiều vất vả, khó khăn trong khi khai sáng. Mệnh cách Liêm Tham đắc vòng Trường Sinh khí hình cường vượng, trong hành vận Tử Phá có thể tránh được đè nén, áp lực tai họa của Vũ Sát cách. Tử Phá ở thế nhập Vượng tính chất tăng cường. Đại vận Tử Phá là vận phức tạp, cách cục trong đại vận này dễ gặp tranh đoạt, phá phách của bên ngoài tới bản thân, là cách xung đột trong chính nội bộ. Cách cục Tử Phá theo kinh thương thuộc Tài cách phù hợp hơn Quan Cách, trong hành vận này nên hướng tới lợi ích làm trọng, với Tướng bên ngoài lợi cho hợp tác, tương trợ. Tử Phá Tuế Thanh là cách cục chủ danh, có Khoa Khúc vượt qua được khó khăn do khả năng hiểu biết của mệnh cách. Qua đại vận Tử Phá nhập đại vận Thiên Cơ từ 53 tới 62. Cách cục Thiên Cơ độc tọa cư Ngọ trong bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương hoàn chỉnh. Thiên Cơ ngộ Bật Kiếp hội Kình Hỏa Khôi Việt. Thiên Cơ chủ đầu óc, suy nghĩ khi hội Kình Hỏa Khôi Việt chủ đầu óc thường gặp căng thẳng, rối loạn. Đại vận Cơ Nguyệt Đồng Lương khó hưởng sự an ổn, hiền hòa của nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương, là cách cục phá cách bởi Kình Hỏa Việt tượng là lửa cháy ruộng vườn. Thiên Cơ nhập vận chịu ảnh hưởng mạnh của cách cục, ắt trong nội tâm nóng nảy thất thường, tình cảm bất hòa. Trong đại vận này nên tránh lao lực quá lớn, cũng đề phòng bệnh máu huyết, tăng huyết áp. Vận Thiên Cơ là vận khó khăn khi nhân mệnh ở giai đoạn Suy Bệnh của Vòng Trường Sinh. Cách cục Thiên Cơ ắt tác động tới bệnh tật do Thiên Cơ chủ đầu óc, cũng chủ cơ thể. Bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương tối kỵ Hỏa Linh xâm phá, đặc biệt là Thiên Cơ có Địa Kiếp đồng cung. Trong hành vận này nên hướng tới đạo, tránh để áp lực căng thẳng đầu óc sẽ ảnh hưởng lớn tới mệnh cách. 

     

     

    Nhìn chung mệnh cách khởi gốc từ Tham ngộ Trường Sinh tuy tại cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham xung đột thành thế bế tắc, thuộc tinh hệ Tử Phá cư Mùi được bộ Âm Dương sáng và cách cục bản cung có Khoa Khúc trong cách Khoa Xương Khúc giao hội tăng sức cát hóa chế dụng Sát cho cách cục. Liêm Tham khi có Khoa Khúc, Hóa Khoa do Văn Khúc hiểu biết hóa khí thành càng tăng tính chất khoa học, hiểu biết tránh các tai họa. Hành vận lưu tới các cung độ khá tốt đẹp, về đại vận trung niên có phần vất vả phức tạp tại hành vận Tử Phá đồng cư Mùi cần sức khai phá lớn và hành vận Thiên Cơ độc tọa cư Ngọ trong cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương hoàn chỉnh hội Kiếp Cơ Hỏa Kình là cách cục hung họa trong nội cách. Chủ đầu óc căng thẳng, rối loạn do Thiên Cơ tối kỵ gặp Hỏa Việt. Ngũ thập tri thiên mệnh. Nhân mệnh tới ngũ thập có thể nhìn thấu được tư tưởng được mất thành bại của nội thân, vận về sau qua giai đoạn Đế Vượng tức ở thế Suy Bệnh Tử cuộc đời. 

  • Người phú quý đất Nam Dương, hai mươi tám tướng, không lẽ người nào cũng được cung lục hợp. Quân bị chôn ở đất Tràng Bình, bốn chục vạn người không hẳn người nào cũng bị hạn tam hình”.

    Hai lá số đều bị Lục Sát Tinh xâm phạm nhưng một kẻ thì dụng được Sát Tinh hóa Sát vi Quyền mà có được thiên hạ, kẻ kia tử nạn nơi chiến trường. Bí mật của họa phúc nằm không phải ở số mệnh mà do chính bản thân ta vô tình chọn do hoàn cảnh ngoài thực.

  • Thông tin tài khoản

    Đăng ký thành viên

    Hỗ trợ trực tuyến

    Hỗ trợ trực tuyến
  •              Hộp Thư Đến :       luantuvidonga@gmail.com

  • Thống kê truy cập

    Hôm nay 91

    Hôm qua 211

    Tất cả 112008