• Tử vi Đông A

    Định cách cục Vũ Phá ngộ Tam Kỳ gia hội

     

    Nam mệnh Vũ Phá hành vận thứ nhất nhập Mệnh cách. Mệnh Cục thuộc thủy sinh, trong hành vận lưu tới sẽ tác động biến đổi mạnh tư tưởng của mệnh tạo. Đại vận thứ nhất tại cung độ Tị cung. Bố cục Vũ Phá đồng độ trong cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham. Tinh hệ Tử Tham đồng độ cư Dậu. Vũ Phá nắm Khoa Quyền Lộc, tức được Tam Kỳ gia hội là cách cục đặc biệt trong tử vi, cứu giải rất lớn cho thế mâu thuẫn của Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham. Tại bố cục này thêm một chữ Việt tại Sửu có Tuần Triệt hội là phát sinh việc khai thông bế tắc, do bố cục đã hóa khí thành Khoa Quyền Lộc, sức cát hóa rất lớn, ắt có giai đoạn thành tựu lớn đột phá trong cuộc đời. Thế Vũ Phá hiềm nỗi là cách cục chủ thăng trầm, tụ tán thất thường, hoạch phát hoạch phá trong cuộc đời. Đại vận thứ nhất nhập mệnh cách phát sinh tư chất, khả năng tìm hiểu khai phá với các vấn đề ở chuyên sâu, có khả năng nhìn vấn đề ở các góc độ khác nhau, phẩm chất tốt khi Vũ Khúc chủ bạo lực, có tính chất giải quyết, hành sự cương quyết, Phá Quân cương quyết phá bỏ, khai tạo đổi mới khi thời cơ từ Thiên Cơ phát sinh. Thế Vũ Phá khi tốt đẹp là sự nhanh nhạy và táo bạo tìm giải pháp, phương hướng kinh thương. Vũ Phá đắc Tam Hóa gặp tại can Giáp. Toàn bộ cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham thành các cách cục riêng biệt đều gặp Tam Hóa tại can này do tứ hóa Liêm Phá Vũ Dương. Cách cục tại đây luôn ở vị trí Tị Dậu Sửu, Hợi Mão Mùi nên gặp một trong hai trợ tinh mạnh an theo Thiên Can là Thiên Khôi hoặc Thiên Việt. Can Giáp với Lộc Tồn an tại Dần. Kình Dương tại Mão, Đà La tại Sửu. Cách cục Tị Dậu Sửu gặp Đà Việt tránh được cách cục táo bạo, bộc lộ của Kình Dương dễ gặp tai họa do bố cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham nếu không dụng Văn Cách. Cách cục Vũ Phá tính chất cơ bản hàm chứa chữ phá tán về tài sản. 

     

     

     

    Vũ Phủ chủ Kim, Vũ Phủ là cách tích ngọc đôi kim, Vũ Khúc tượng là tài sản, vật giá trị. Thiên Phủ chủ tích trữ, tích lũy. Tuy nhiên cách cục Vũ Phá mang ý nghĩa phá tán tính chất của tinh diệu Phá Quân. Cách Vũ Phá thường sử dụng tài sản để đầu tư và hướng tới một phần mạo hiểm khi không suy xét tính toán cẩn trọng như Thiên Phủ giao long vãn uyên. Do đó Vũ Phá ẩn tàng bên trong là cách cục phá sản một lần nếu dụng Tài cách mặc dù mệnh cách gặp Tam Kỳ gia hội có Đà Hao. Hành vận thứ nhất khởi bản tính, phẩm chất, khả năng và khuynh hướng của mệnh tạo. Cách cục Vũ Phá tượng khai phá, có khả năng giải quyết công việc và tìm giải pháp tốt. Tuy nhiên khuyết điểm do tính chất mạnh bạo của Phá Quân đứng đầu nhóm Sát Phá lại ở thế bất ổn khi giao hội Tử Vũ Liêm, đồng độ với Vũ Khúc ắt gặp khó khăn bế tắc khi hành vận xấu tác hóa. Qua hành vận thứ nhất tại cách Vũ Phá hình thành phẩm chất tốt là khả năng tìm hiểu sâu vấn đề, khả năng tạo ra thời cơ do Tam Kỳ cát hóa. Đại vận thứ hai lưu tới cung độ Thái Dương cư Ngọ từ 13 tới 22 cũng là cách cục có sức tác động mạnh khi Nhật cư Ngọ là cách Nhật Lệ Trung Thiên, khi Âm Dương tối quan trọng vị trí nhập cung. Tại cách cục Thái Dương cư Ngọ thuộc bố cục Cự Nhật hoàn chỉnh. Thái Dương cư Ngọ địa nhập miếu tính chất hiển hiện chủ sớm gặp công danh. Bản cung cách Dương Kỵ hội Cự Hổ Ấn và Tồn Kiếp Tuế. Thế Cự Nhật tại đây hình thành cách Lộc Đảo Tuế Đảo, may mắn không nhìn thấy Thiên Không Không Vong. Thái Dương nhập miếu sức cát hóa rất lớn, tuy nhiên Cự Môn hội Kỵ Tồn Kiếp Tuế là cách cục xấu khó có thể chế dụng toàn tổ hợp. Cự Môn ngộ Ấn trong cách Cự Nhật là bố cục người đàn ông rời xa. Thực tế trong hành vận này nếu ly hương thì phù hợp tính chất của cách cục. Cự Nhật cách có khuyết điểm ở tính chất ưa phản đối, tồn nghi, bất mãn trong nội tâm của thế Cự Tồn Kỵ tính cản trở rất mạnh. Cự Nhật cũng là cách chủ đương cự, hội Kỵ Tồn Kiếp tượng mang họa, không đương cự nổi với khó khăn. 

     

     

    Tuy nhiên do Thái Dương cư Ngọ địa là vị trí có sức cường vượng lớn, tuy gặp Kỵ không ảnh hưởng tới tính chất, chỉ Cự Môn chịu tác động lớn bởi bố cục. Do đó đại vận này có thể gặp thị phi, tuy nhiên tham muốn và công danh tới sớm. Thái Dương ngộ Tướng Quân trong cách Lộc Tướng Ấn chủ tình cảm, tuy nhiên tại đây cách cục tình cảm ắt gặp cự cãi, tính chất xung đột mạnh. Trong nội cách hình thành thế công khai, táo bạo. Đại vận Thái Dương cư Ngọ nhập cung vận thứ hai tuy gặp Sát Kỵ tác hóa, tăng khả năng bày tỏ, hình thành quan điểm nguyên tắc của bản thân, tức khí hình tăng vượng. Vũ Phá tới cung vận Thái Dương là khai phá, tính chất hướng lên, dương lên, phù hợp khi phối hợp mệnh cách. Tuy nhiên cách Cự Nhật tính dương thái quá, tuy nhiệt huyết lại thiếu trầm tĩnh, cẩn trọng kiên nhẫn suy xét, cách cục táo bạo nắm được thời cơ lại thiếu tính phòng bị. Hành vận thứ hai nhìn chung phù hợp với cách Vũ Phá mạnh tính khai phá, khởi tạo. Qua đại vận thứ hai, nhập đại vận thứ ba tại Mùi cung. Đại vận từ 23 tới 32 nhập cung độ Phúc Đức. Bản cung Thiên Phủ độc tọa trong thế Phủ Tướng đơn thủ. Thiên Phủ ngộ Xương Khúc Khôi hội Kình Hình Đào Sát đắc vòng Trường Sinh. Cách cục chứa tính chất chủ động, chủ tạo do Đào Sát hình thành, thế tranh đoạt mạnh do Tướng Kình Đào Sát. Vũ Phá lưu vận tới cung vận thứ ba tại cung độ Thiên Phủ có tính chất bao bọc, giúp đỡ, tình cảm. Hành vận Phủ Kình Hình đắc vòng Trường Sinh tính chất đắc dụng, tương hợp Vũ Phá. Bản cung gặp Xương Khúc Khôi Kình có tính chất chủ đứng đầu. Cách cục tọa Khôi hướng Việt là cách cục tốt, tuy thiếu Tả Hữu lại được Khôi Việt Xương Khúc chủ Văn Cách, Thiên Phủ ngộ Xương Khúc Khôi Việt chủ hiểu biết sâu về một vấn đề, cẩn trọng suy xét do tính chất của Thiên Phủ không gặp phá cách. Do đó bố cục Thiên Phủ tại đây tuy hình thành thế tranh đoạt nhưng tính chất khá tốt đẹp, ổn định do gặp Xương Khúc đồng cư Mùi. Hình thành thế Kình Hình Khôi Đào Sát ngộ ắt là đảo điên. 

     

     

     

    Tại đây cách cục tranh đoạt rất mạnh, thế tương hình có phần bất lợi mặt tình cảm. Tuy nhiên về mặt tài danh có phần tốt do ứng hợp Cự Phá Kình Dương tính tất cương. Kình Khôi được Xương Khúc chú hiểu biết tránh được thế họa hại của bố cục. Tuy nhiên tại đây tương tranh do Kình Tướng ắt tượng có tổn thất. Qua đại vận Phúc Đức cung được ổn trọng do Xương Khúc cát hóa, nhập đại vận tại Điền cung từ 33 tới 42 tại Thân cung. Cách cục nhập nguyên vận bản cung Cơ Âm đồng độ cư Thân. Cơ Âm đồng độ ngộ Không Triệt Phi Hư Mã Phượng, hội Đồng Bật Hỏa Thanh Tang Khốc và Lương Linh thành cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương hội Hỏa Linh Không Kiếp. Bố cục Không Kiếp Dần Thân có lợi cho cách Đồng Lương đồng độ tại đây tuy nhiên bất lợi cho thế Cơ Âm hiền hòa. Cơ Âm kỵ hội Hỏa Linh do tính chất âm nhu khi giao hội ưa ổn định, lại Thiên Cơ rất kỵ Hỏa Tinh. ” Cơ Nguyệt Đồng Lương tối kỵ Hỏa Linh xâm phá” tượng chủ gặp khó khăn do tượng đồng ruộng khô héo. Linh Tinh chủ tàn, Hỏa Tinh chủ cháy, tính thất thường tăng mạnh, khiến Thiên Cơ chủ đầu óc, tư tưởng ở thế loạn động. Bản cung cách Cơ Âm ngộ Phi Liêm có Thiên Hư là cách phá tán, do Lộc Tồn là tích lũy, đối cung Phi Liêm chủ tan rã. Bố cục Cơ Âm tại đây ở thế bất lợi do Tứ Sát gồm Hỏa Linh Không Kiếp. Cơ Âm tính âm nhu bất hợp Vũ Phá tiến vận. Tuy Phá Quân có thể chế ngự Không Kiếp nhưng cách Vũ Phá là thăng trầm, cát hung tương bán, Cơ Âm lại kỵ gặp bố cục này. Hành vận khó khăn, gặp cản trở lớn. Thế cục Vũ Phá nhập hành vận này ắt sẽ có giai đoạn bạo phát do Phá Quân chế ngự được Không Kiếp. Tuy nhiên Vũ Phá tàng ẩn thế phá sản, phá tán của Phá Quân, lại nhập hành vận Phi Liêm chủ phá tán ứng hợp. Cách cục Không Kiếp hoạch phát hoạch phá như lôi. Cơ Âm bất chế ngự được Không Kiếp như Đồng Lương, do đó hành vận cách cát hung tương bán. Do nhầm lẫn khi khai phá, táo bạo của nam mệnh, thực tế do định cách Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham xung đột trong chính nội cách Vũ Phá dẫn tới thăng trầm trong hành vận. 

     

     

     

    Trong thế Cơ Âm ngộ Không Kiếp Hỏa Linh tuy loạn động, nhưng cách cục hình thành tính chất nhạy bén trước cơ hội do Không Kiếp nhập miếu đối xung tại Dần Thân ngộ Cơ Âm. Qua đại vận Cơ Âm lưu tới cung độ hành vận tam hợp mệnh, cư Quan Lộc cung gặp cách cục Tử Tham đồng độ cư Dậu ngộ Triệt Lộ, hội Khoa Quyền Lộc Việt Đà Ân Quý. Cách cục Tử Tham phá cách bởi Triệt Lộ tại bản cung khiến Tử Vi tượng là bất động, đứt gánh giữa đường khi gánh vác trách nhiệm. Tử Tham ngộ Triệt là cách từ bỏ tham muốn cực vượng ban đầu, thiên về tính bị động giải quyết các vấn đề phát sinh. Hành vận Tử Tham, tinh diệu Tử Vi là đế tinh, tính chất chủ hoàn động, gánh vác nhiệm vụ, trách nhiệm, lý tưởng với cuộc sống hay công việc. Khi thế Tử Tham bởi tham muốn gặp Triệt là từ bỏ, khí hình hóa suy. Cách cục Tử Tham vẫn trong thế Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham là cách cục của khó khăn, bế tắc. Được Tam Kỳ gia hội có Việt Đà khởi tạo lại, phát khởi thành cách, chủ vượt trội, vượt qua, Đà Việt có tính bành trướng, hiềm nỗi khí hình bất cường vượng do cách Tử Tham Triệt, đương khí không tiến, có thể thoái lui tức giải đãi, bị động trước tác động của ngoại cảnh, do chịu tác họa từ Không Kiếp Hỏa Tinh tới áp lực tư tưởng của hành vận trước Cơ Âm. Trong hành vận Tử Tham Triệt, lấy hư làm gốc, nội bất tham lấy lý tưởng làm trọng. Tức thay vì mệnh cách phát khởi tham muốn, tham vọng về phát phú, mệnh tạo hướng tư tưởng tới phục vụ lợi ích cống hiến xã hội làm trọng. Thực tế trong nội cách dụng khuynh hướng này đã hàm chứa chế hóa cách cục biến hóa của Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham. Trong hành vận Tử Tham Triệt, hội Khoa Quyền Lộc Việt tuy nhiên mang ý nghĩa đứt đoạn giữa đường, tính chất trợ lực của Tam Hóa khó chế ngự được cách Tử Tham ngộ Triệt. Do đó mệnh tạo cần suy xét tùy ngoại tức hành động Thiên Tướng hướng tới phục vụ lợi ích cộng đồng ứng hợp cung an Thân với Tướng Sinh hội Xương Khúc Khôi Đào. Bố cục Tử Tham bất loạn do tham muốn của Tham Lang không tại tích lũy tài sản, do đó tự dẫn hóa khí hình cường vượng, tắc phát tài cách. Trong hành vận này các tiểu vận năm Hợi, Tí, Mão, Thìn cần lưu ý suy xét nếu hành vận lưu động qua. Trong năm Tí, Thìn cách cục Cự Nhật hội Tồn Kiếp hình thành thế bất mãn và phá bỏ, có tính khởi tạo, dương lên. Lấy tư tưởng phục vụ lợi ích xã hội làm trọng tránh nội cách loạn động, dụng được Tướng Kình Xương Khúc Sinh. Tiểu vận năm Hợi, Mão, mệnh, đại, tiểu vận trùng phùng cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham được Tam Hóa trợ lực, thuộc cách cục trước bại sau thành, thành tựu trong khó khăn biến động, tại đây cũng hình thành cách cục bộc phát, do đó có thể tạo ra thời vận trong hoàn cảnh khó khăn trong các năm này. 

     

     

     

     

    Qua đại vận Tử Tham đồng độ cư Dậu, hành vận lưu tới cung độ Tuất cung từ 53 tới 62 tại bản cung Cự Môn trong cách cục Cự Nhật hoàn chỉnh. Mệnh cách Vũ Phá có tính khai phá, phá cũ đổi mới. Trong hành vận lưu tới cung độ Cự Tồn Kiếp có tính chất dị biệt, cách cục Cự Nhật Tồn Kiếp tượng là người đàn ông rời xa, rời khỏi. Xấu là vong mạng, thường là cách cục chủ ly hương, chuyển động. Cự Môn là tinh đẩu đứng đầu thị phi, chủ âm ám. Cách cục lại hội Kỵ Tồn Kiếp ắt phát sinh nhiều tư tưởng nghi kỵ, bất mãn dẫn tới đứng lên phản đối. Trong cách cục chủ tình cảm ắt cũng gặp khó khăn, mâu thuẫn xung đột do bố cục này. Phá Quân tới vận Cự Moonlaf hành vận khởi tạo, khai phá cái mới. Hiềm nỗi cách cục Cự Nhật hội Tồn Kiếp bất lợi cho Cự Môn thành cách Cự Tồn và Phá Tồn. ” Lộc phùng xung Phá, cát dã tàng hung”. ” Cự Môn ngộ Lộc Tồn bất cẩn ngôn”. Trong thế Tồn Kiếp, Vũ Phá lưu vận tới cát hung tương bán, tốt do Phá Quân có thể tìm kiếm cơ hội khai phá từ hoàn cảnh chung khó khăn, tai kiếp tạo ra do Tồn Kiếp Ấn. Khuyết điểm do cách cục tạo ra Cự Tồn Kiếp Kỵ có tính chất Sát cực vượng, Thái Dương cư Ngọ sức cát hóa lớn tuy nhiên khó có thể chế ngự được bố cục, lại thường mang họa thị phi do phản đối, bộc trực và khởi phát khó khăn lớn, mang tính chất tồn tại khó khăn phải đương cự. Hành vận Cự Môn là vận phức tạp, có tính chất khó khăn tạo bởi xung đột của nhóm Cự Nhật và vòng Lộc Tướng Ấn. Cách cục lại hội Hóa Kỵ do Thái Dương hóa từ can Giáp hình thành cách Kỵ Tồn là cản trở, nghi kỵ, thị phi cách. Trong đại vận này Vũ Phá sẽ có thể phá bỏ được các khó khăn tồn tại, tuy nhiên là cách hoạch phát hoạch phá nên lưu ý cẩn trọng. Cung an Thân khá vững, do đó trong hành vận Cự Nhật Tồn Kỵ Kiếp Ấn không dẫn tới tai kiếp tới tính mạng, tuy nhiên cần đề phòng ở các hành vận trùng phùng Sát Kỵ tới sức khỏe. Trong vận này dễ phát sinh bệnh tật mãn tính do Kiếp Kỵ Tồn tạo, cần chú ý quan phòng thêm do khí vận ở cung độ Bệnh trong vòng Trường Sinh của nhân mệnh. 

  • Người phú quý đất Nam Dương, hai mươi tám tướng, không lẽ người nào cũng được cung lục hợp. Quân bị chôn ở đất Tràng Bình, bốn chục vạn người không hẳn người nào cũng bị hạn tam hình”.

    Hai lá số đều bị Lục Sát Tinh xâm phạm nhưng một kẻ thì dụng được Sát Tinh hóa Sát vi Quyền mà có được thiên hạ, kẻ kia tử nạn nơi chiến trường. Bí mật của họa phúc nằm không phải ở số mệnh mà do chính bản thân ta vô tình chọn do hoàn cảnh ngoài thực.

  • Thông tin tài khoản

    Đăng ký thành viên

    Hỗ trợ trực tuyến

    Hỗ trợ trực tuyến
  •              Hộp Thư Đến :       luantuvidonga@gmail.com

  • Thống kê truy cập

    Hôm nay 115

    Hôm qua 190

    Tất cả 93061