• Tử vi Đông A

    Luận khán hạn nam mệnh VCD có Cự Nhật xung

     

    Nam mệnh ngũ hành Hỏa. Mệnh cách VCD nội Cơ Nguyệt Đồng Lương, ngoại Cự Nhật cách là bố cục có tính thị phi do Cự Nhật xung chiếu. Bản cung mệnh ngộ Tồn Không đắc vòng Trường Sinh, hội Cơ Hỏa Ấn Bệnh và Đồng Âm Linh Hình Hổ, nội cách có tính biến động lớn, nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương là nhóm sao chủ hiền hòa, khi hội Hỏa Linh Hình Hổ chủ tính chất trở nên thất thường, bộc phát. Bình Hình Tướng Ấn nội cách hình thành, bản cung VCD có Không Vong và Trường Sinh có thể dụng Hình Ấn, tư tưởng có tính chất nghiêm chỉnh, tác phong của Hình Ấn, tuy nhiên tại cung độ có Cơ Hỏa Hình Tồn ắt rất dễ gặp căng thẳng thần kinh, đầu óc, dẫn tới cách tự hình, tức bản thân do tính cách khiến mệnh tạo thường lo lắng. Mệnh cách đắc ba vòng thiên địa nhân là Lộc Tồn, Thái Tuế và Trường Sinh, hiềm nỗi không gặp Phượng Khốc dẫn tới quý cách có phần giảm. Ngoại cách có Cự Nhật Kiếp Phi Kỵ Mã Khốc Khách. Ngoại cách tượng chủ người đàn ông rời xa, có tính chất nguy hiểm, bên ngoài có Cự Kỵ Kiếp xung, cần cẩn trọng khi ra ngoài tránh tai họa do Tuần Kiếp Kỵ là trúng họa, có Cự Kỵ càng ứng hiềm. Thị phi từ bên ngoài mang lại. Mệnh tạo bản tính quyết đoán, lập trường quan điểm rõ ràng do đắc khí của Lộc Tồn và Thái Tuế, cách cục trở nên cường vượng, tuy nhiên Sát tính cũng rất lớn, họa do phản đối công khai tạo ra đặc biệt khi cung an Thân cư Thiên Di tính động mạnh, có Mã Kiếp Kỵ Tuần là trúng họa cần rất lưu ý. Cách cục mệnh là tổ hợp chế hóa Sát tuy nhiên lực Sát cường, mệnh cách cũng rất cường vượng dẫn tới cuộc đời sẽ gặp nhiều thăng trầm. Đây là mệnh số hướng tới liên tục đương đầu, vượt qua khó khăn để khí hình tăng cường, chế hóa tổ hợp tạo bởi Không Kiếp Kỵ Hình Hỏa Linh tức Tứ Sát hội. Nhân mệnh khi đắc Thái Tuế và Hình Ấn ắt tính thẳng thắn, cương trực, đây là ưu điểm cũng là khuyết điểm của nhân mệnh do Cự Kỵ luôn tồn tại tai kiếp bên ngoài. Mệnh cách giáp Xương Khúc Phụ Bật là tốt, được trợ lực rất lớn từ những người bên cạnh, tại đây là Bào cung.

     

     

    Cục thuộc thổ cục, đại vận thứ nhất từ 6 tới 15 khởi từ cung Mệnh. Đây là cách cục hay, Không cách đắc tụ, sớm tự được rèn luyện tính cương cường, Lộc Hỏa hội Linh Hình, trong nội tâm biến động mạnh, do tác động của nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương có Hỏa Linh xâm phá chủ cuộc sống, tình cảm có khó khăn, ngay trong giai đoạn này hình thành lý tưởng, quan điểm sống của bản thân mạnh. Ngoại cách Cự Nhật Kỵ Phi Kiếp Tuần Mã Khốc Khách xung chiếu, đóng vai trò ngoại cách cho bản mệnh, là cung Thiên Di tức có thị phi tới mệnh tạo, cũng dễ có cự cãi, nâu thuẫn, phản ứng. Cự Nhật xung tượng người đàn ông, bất lợi trong tình cảm.

     

     

    Đại vận thứ hai từ 16 tới 25, nam mệnh nhập cung độ Liêm Phá với cách cục Liêm Phá Kình Quyền Lộc Đào hội Vũ Tham Khôi Khoa thành cách cục tăng cường dương tính do Phá Quân hội Kình Khôi Khoa có tính tranh đoạt, khai phá lớn. Tượng của Kình Khôi là đứng đầu, Phá Quân là chủ tinh của nhóm Sát Phá Tham có Sát tính lớn. Cách cục bản cung Đào Hoa trong cách Đào Kình Sát mang ý nghĩa tranh đoạt tốt, dương tính phối hợp với mệnh tạo càng tăng tính táo bạo của nam mệnh. Liêm Phá đồng cung chịu tác động của Liêm Trinh âm hỏa, trong thế Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham thành cách cục vượt qua khó khăn do nắm thế chủ động. Kình Dương chủ dương lên, khai phá, ngộ Đào Mộc thành cách cục Đào Hoa cách phá một phần thế cường gượng của Liêm Phá. Tượng của Đào Hoa cách chủ ngày tháng giải trí, vui vẻ. Mệnh cách Hình Hỏa có thể chế ngự một phần bố cục này, tuy nhiên ắt sẽ khó có thể dẫn hóa toàn cục hóa Sát vi Quyền.

     

     

    Tiểu hạn năm Canh Dần tức năm 2010, mệnh cách lưu tới đai vận Liêm Phá cách hội Tam Kỳ có Kình Đào Khôi Mộc. Tiểu vận tại cung độ Cự Nhật Kỵ Phi Kiếp Tuần là cách chủ người đàn ông gặp họa, tai kiếp. Tượng có thể ứng với người thân trong gia đình, đặc biệt khi có Phượng hội và thế Mã Khốc Khách dễ có tang tóc, hoặc thị phi lớn. Đây là năm luận xấu. Can Canh với Thiên Đồng hóa Kỵ tại bản cung Đồng Âm, Lộc Tồn lưu về cung độ Cự Nhật càng tăng thêm bất mãn, hung họa trong bố cục.

     

     

    Tiểu vận năm Bính Thân tức năm 2016. Nam mệnh nhập tiểu vận VCD bản cung có Lộc Tồn ngộ Thiên Không. Can Bính với Liêm Trinh tại bản cung đại vận Hóa Kỵ. Đây là năm có biến động mang ý nghĩa bất mãn, khó khăn nhiều hơn thuận lợi. Trong năm này Liêm Phá ưa khai phá, thay đổi tuy nhiên gặp Lộc Tồn cản dẫn tới việc hư hao, khó khăn vẫn khó thay đổi. Tiểu vận này biến động do Không Kiếp cư Dần Thân hội Cự Nhật ngoại, bất ổn trong tình cảm gia đình, ngoại cách xung cũng không mấy hay.

     

     

    Tiểu vận năm Đinh Dậu tức năm 2017, Đào Hoa cách cực vượng khi đồng đại tiểu hạn, Liêm Đào Mộc Phá hội, can Đinh gặp thêm lưu Kình Dương về Mùi cung hội Kình bản cục. Mệnh cách có Lưu Lộc hội và Lưỡng Kỵ xung. Đây là năm biến động rất mạnh. Cách cục chứa tính thị phi, hoặc khó khăn, biến động lớn do ngày tháng vui vẻ, phá tán, Cự Nhật xung, nội có Kỵ Hình có thể liên quan tới hình pháp. Trong bố cục nam mệnh vẫn chế ngự Sát cục, tuy nhiên có phản tác, Liêm Trinh là theo dõi, Liêm Phá là khám phá về những nơi vui chơi, phá tán, là năm định khả năng chế hóa Sát của mệnh cách, tùy theo đương số ở vị trí chủ khác, đạt danh tiếng hay tai tiếng trong năm này. Đây là năm có tính động lớn, khai phá, phá bỏ.

  • Người phú quý đất Nam Dương, hai mươi tám tướng, không lẽ người nào cũng được cung lục hợp. Quân bị chôn ở đất Tràng Bình, bốn chục vạn người không hẳn người nào cũng bị hạn tam hình”.

    Hai lá số đều bị Lục Sát Tinh xâm phạm nhưng một kẻ thì dụng được Sát Tinh hóa Sát vi Quyền mà có được thiên hạ, kẻ kia tử nạn nơi chiến trường. Bí mật của họa phúc nằm không phải ở số mệnh mà do chính bản thân ta vô tình chọn do hoàn cảnh ngoài thực.

  • Thông tin tài khoản

    Đăng ký thành viên

    Hỗ trợ trực tuyến

    Hỗ trợ trực tuyến
  •              Hộp Thư Đến :       luantuvidonga@gmail.com

  • Thống kê truy cập

    Hôm nay 1

    Hôm qua 213

    Tất cả