• Tử vi Đông A

    Thiên Cơ độc tọa cư Tí luận thủ vận

     

    Nam mệnh nhập đại vận thứ nhất tại Mệnh cung. Mệnh Kim cục Hỏa, hành vận tác động có tính chế ngự tới bản tính, tức tác động của vận rất lớn tới mệnh cách. Thiên Cơ độc tọa cư Tí, trong cách Cự Cơ Tí Ngọ xung chiếu là cách cục đứng đầu của nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương. Thiên Cơ độc tọa tính chất hiển hiện, chủ cơ mưu và trí tuệ. Tại hành vận thứ nhất, hình thành bản tính của nhân mệnh, Thiên Cơ ưa suy xét, dụng tâm, lấy trí tuệ làm gốc, cũng chủ tính toán hơn người, phân rõ thiệt hơn. Can Ất, Thiên Khôi cư Tí, Thiên Việt cư Thân. Cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương đắc Khôi Việt mang ý nghĩa phúc phận, trong trường hợp bản cung gặp Thiên Khôi, tượng là ngọc quý. Thiên Cơ ngộ Khôi Lộc Tiểu Hao, hội Việt Quyền Tả Phụ và Âm Linh Xương Kình Kỵ. Cách cục hình thành Kình Khôi Việt Linh Xương Kỵ Tả, cách cục Linh Kỵ Quyền hội Khôi Việt, hội cách Đồng Lương là phúc lớn. Hiềm nỗi hành vận phức tạp, tiền vận khó khăn để hoạch phát, trung vận và hậu vận, cách cục qua Sát cách, hiển lộ quý cách có thể thành tựu đột biến. Nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương kích phát bởi Kình Kỵ Linh, tuy nhiên bố cục thiếu Lộc để đắc cách phát tài, cũng kích phát bởi Kình Kỵ Linh có tính phản kháng, Kình Khôi có thể đứng đầu một tổ chức, tuy nhiên cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương cần kích phát bởi tham muốn, tham vọng khởi phát. Thiên Cơ hỉ gặp Lộc hơn Quyền, do tính chất của Thiên Cơ chủ tính toán, suy xét về lợi ích và mưu tính. Đại vận thứ nhất, mệnh tạo sinh giờ Ngọ tức Mệnh Thân đồng cung Thiên Cơ. Do đó tính chất của Thiên Cơ tác động tới tính cách và thân thể. Trong tinh hệ Tử Phá Sửu Mùi tính động mạnh, cuộc đời sẽ khó có thể yên ổn, tức cần luôn đối mặt những biến động. Cách cục Đồng Lương, tăng phùng Linh Kỵ giao lai Song Lộc hoạch dị phú cường. Do tính chất của Đồng Lương đồng độ có tính cứu giải rất lớn với tai họa, có thể chế ngự Không Kiếp và Lục Sát Tinh hội họp. Tuy nhiên rất kỵ Hỏa Linh. Thiên Cơ không gặp Hỏa Tinh là điềm may, hội Linh Tinh trong cách Linh Kỵ tăng tính nhanh nhạy, tuy nhiên cũng tăng khuyết điểm xung đột, khó khăn do Kình Kỵ Linh.

     

     

    Đại vận thứ hai khởi phát từ Hợi cung. Bản cung VCD nội Phủ Tướng, ngoại Liêm Tham xung chiếu. Cách cục VCD chịu tác động mạnh của nội cách và ngoại cách, bản cung có Tuần Tướng Mã Khách, hội Phủ Tuần Tang và Tướng Hư Triệt. Ngoại có Liêm Tham Không Kiếp Diêu Khốc Tuyệt xung chiếu. Thiên Phủ khá hay khi gặp Lộc Tồn ngộ Tang Môn. Phủ Tham Tồn có tính chất tích lũy mạnh, cung độ VCD cư Hợi, có Liêm Tham Khốc Tuyệt xung chiếu là cách cục có tính chất biến động mạnh. Do Liêm Tham trong tính chất nguyên cục có tính bất ổn, thường luận cuộc đời chỉ thấy khó khăn trắc trở, trong trường hợp ngộ Không Kiếp đồng độ cư Tị Hợi càng tăng mạnh tính chất này. Nội cách Phủ Tướng hội Nhị Không, cách cục khá tốt đẹp. Đại vận thứ hai là vận thăng trầm, có tính khai sáng lớn. Đặc biệt khi xung chiếu gặp Không Kiếp tại đối cung. Thiên Không là bất ngờ, Địa Kiếp chủ tai kiếp. Thực tế khi đồng độ cư Tị Hợi có lợi hơn trường hợp hội họp do Thiên Không tăng tính bất ngờ, tạo bộc phát khi Địa Kiếp tranh đoạt. Hành vận thứ hai là vận thay đổi mạnh về tư tưởng, tham muốn do bên ngoài tác động tới nhân mệnh. Kích phát của Liêm Tham chủ khó khăn, tăng tính linh hoạt khi giải quyết các vấn đề cho Thiên Cơ, cách cục mệnh tạo năng lực về chuyên môn, nhóm Cự Cơ Đồng được đánh giá tốt hơn Cơ Nguyệt Đồng Lương khi có Cự Môn là chính tinh chủ đứng đầu, trong trường hợp này do không hình thành cách cục xung đột của Cự Cơ Đồng, thường khó có thể đạt thành tựu đột phá giai đoạn tiền vận, dụng Kình Khôi chủ thay đổi táo bạo, phá thế ổn định của Cơ Nguyệt Đồng Lương. Đại vận thứ hai gặp cách cục Phủ Tướng hội Lộc Mã giao trì, cách Phủ Tướng đơn thủ có phần khuyết thiếu về tính chất do không gặp Tử Vi chủ lý tưởng lớn trong nhóm Tử Vũ Liêm giao hội. Thiên Cơ lưu vận tới cung độ thứ hai đa phần mang ý nghĩa muốn khai phá, tạo thành tựu lớn tuy nhiên lại khó đảm nhiệm, quyết đoán thay đổi dụng kinh thương, lấy Quốc Ấn trong bố cục Phủ Tồn cẩn trọng dò xét, dụng Quan cách cần phát triển theo thời gian.

     

     

    Qua đại vận thứ hai, nam mệnh lưu hạn tới vị trí Thái Dương độc tọa cư Tuất trong cách cục Cự Nhật hoàn chỉnh. Hiềm nỗi Thái Dương cư tại vị trí Tuất cung là vị trí lạc hãm, Âm Dương phản bối. Thái Dương ngộ Khúc Thai Tuần hội Cự Bật Đào Hồng. Cách cục Thái Dương hội Đào Hồng tuy tại vị trí lạc hãm vẫn mang nhiều niềm vui do thay đổi với nam mệnh. Cự Nhật cách chủ dương lên, công khai, Thái Dương chủ quý hơn phú, chủ danh hơn lộc. Thực tế bố cục Thiên Cơ dụng Tài cách có lợi hơn Quan Cách, do tính chất Quan Cách khởi phát từ hành vận thứ hai thường ứng với tính chất ổn trọng. Đại vận thứ ba nam mệnh theo khuynh hướng Quan Cách, hoặc dụng Tài cách, ắt cũng sẽ cần trải qua giai đoạn khó khăn tại hành vận Vũ Sát. Đại vận Thái Dương trong cách Cự Nhật do hội Đà Hao Đào Hồng cách cục không gặp biến động mạnh, chủ phát triển ổn định, khó mang đột biến lớn. Trong đại vận này hướng tới tình duyên do cách Cự Đào Hồng là phù hợp, Cự Môn cư Ngọ là vị trí hay của sao này, chiết giảm tính chất âm ám, khiến nhân mệnh có khuynh hướng khởi tạo cái mới. Thái Dương trong bộ Âm Dương Thìn Tuất gặp Xương Khúc có Linh Kỵ Kình xung. Bản cung Thái Dương ở vị trí tối tu cần Không diệu, gặp Tuần Trung Không Vong là cách tốt, tuy nhiên mối quan hệ bên ngoài tạo bởi Âm Kình Kỵ Linh dễ gặp xung đột ngầm tới mệnh tạo, cách Âm Kình Kỵ âm thầm chống đối tại mối quan hệ xã hội. Qua đại vận Thái Dương có phần ổn định trong nội cách, đại vận Vũ Sát là hành vận quan trọng quyết định thành bại và định Sát cách của nhân mệnh do Thiên Cơ dụng Quan cách, lấy Kình Khôi Kỵ Linh Quyền Lộc làm trọng, không gặp Hóa Khoa cát hóa Kình Linh, hành vận tới Vũ Sát, Linh Xương trong thế La Võng tác động mạnh, xuất hiện hai khuynh hướng và thế bế tắc tạo bởi nguyên cục. Hành vận Vũ Sát sẽ tạo áp lực rất lớn tới nam mệnh, Kình Kỵ Cơ có tính nhạy bén, tuy nhiên thiếu tính chất thâm trầm do vận Thái Dương trong cách Cự Nhật chủ lộ, phơi bày ra bên ngoài.

     

     

    Đại vận Vũ Sát từ 36 tới 45, nam mệnh nhập cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham. Cách cục Vũ Sát ngộ Hỏa Hổ Phi Phượng, hội Liêm Tham Không Kiếp Diêu Tuyệt và Tử Phá Khoa Hình Tuế Thanh. Cách cục Không Kiếp Hình Tuế Phượng hình thành, mang tính chất tăng cường biến động cho Không Kiếp. Ý nghĩa của bố cục này do tượng phát sinh bởi Hỏa Kiếp Hình Khốc tăng mạnh thăng trầm, hoạch phát hoạch phá tới rất nhanh chóng. Vũ Sát chủ tài sản, đây là cách cục hao tán mạnh, nếu kinh thương trong vận này rất chú trọng tới tài sản của bản thân. Khoa Thanh không thể chế ngự cách Không Kiếp, đặc biệt khi gặp Thái Tuế càng tăng tính chất tự tin vào bản thân, dẫn tới họa vô đơn chí. Cần rất lưu ý bố cục Không Kiếp khi Sát Phá Liêm Tham hình thành là cách cục rất khó khăn do hoàn cảnh tác động, nhị hợp là Kình Linh Kỵ. Lục sát tinh hội họp, đặc trưng bởi Không Kiếp đồng cư Tị với Liêm Tham xung hợp, thường được luận mang ý nghĩa khúc toàn cố quy. Trong đại vận này, sức tác động của Sát tinh tới nam mệnh mang ý nghĩa đè nén, gây khủng hoảng tới tư tưởng. Nội cách Tử Phá là thế xung đột của hai nhóm sao với Tử Vi đứng đầu và Phá Quân đứng đầu, lại gặp Tuyệt tại bản cung tăng tính bế tắc, mệnh cách rơi vào thế bĩ, rất dễ hóa bại cục nếu không làm chủ tình thế. Vũ Khúc và Thất Sát đều có tính Kim, trong cách Hình Khốc chủ táo bạo, đây là khuyết điểm của cách cục khi không gặp Quyền tinh phản tác tinh tường. Với Vũ Sát, Thất Sát có thể chế ngự Không Kiếp trong trường hợp Sát Phá Tham hoàn chỉnh cách bất hội Tử Vũ Liêm. Vũ Khúc khi nằm trong bố cục Sát Phá Liêm Tham không thể phát huy khả năng quyết vấn đề, do kim tính cường vượng dẫn tới họa tới có tính Sát, rất chú ý những năm lưu Khôi Việt về kích động bố cục dẫn tới đầu tư mạo hiểm. Trong hành vận này, nếu nam mệnh thất bại thực tế vẫn còn hành vận Đồng Lương kế tiếp để phục hồi và phát phúc. Vận Vũ Sát có Tuế Phượng, nam mệnh ắt sẽ có thời điểm phát danh, cũng sẽ gặp đè nén, áp lực lớn khó kiểm soát tình hình. Hóa Khoa trong cách Khoa Tuế tại đây bất lợi trước Không Kiếp Tuyệt. Vũ Sát ngộ Phi Liêm là tan rã, nếu có tài sản ắt gặp một phen biến động mạnh, đặc biệt khi mạo hiểm ắt sẽ phá sản trong vận này.

     

     

    Nam mệnh cần rất cẩn trọng với những biến động mang ý nghĩa thương tích do Hình Kiếp tạo ra khi có Hỏa Tinh. Hỏa Kiếp ngộ Vũ Sát là hỏa tai, ứng hợp trên hai phương diện là tư tưởng và công danh. Trong công danh có thể bộc phát về danh hơn tài. Thực tế Thiên Cơ nhập mệnh tối kỵ lưu vận tới Hỏa Linh ắt đầu óc sẽ gặp bệnh tạt liên quan tới thần kinh, Thiên Cơ trong nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương ổn trọng bất dụng với Hỏa Linh Hình. Tam hợp Tị Dậu Sửu thuộc kim tính, hành vận qua năm Bính, lưu Lộc Tồn về Tị cung thành cách Liêm Tham Tồn Kiếp, Lưu Thiên Việt lưu về Dậu cung, Liêm Trinh hóa thành Kỵ thành cách Kỵ Tồn Tuyệt hội Việt phát sinh tai họa trong cách Hỏa Linh Hình Việt chủ cả thương tích, tai nạn, cũng mang ý nghĩa đổ vỡ khi Lộc đảo Tuế đảo ngộ Không Kiếp ám xung, Kỵ Linh nhị hợp. Trong đại vận từ 36 tới 45 tối quan phòng năm Bính Ngọ. Trong năm Quý Mão, lưu tiểu vận về Dậu cung đồng đại vận. Can Quý với Tham Lang hóa thành Kỵ, Lưu Kình Dương về Sửu cung, bản cung Vũ Sát ngộ Thiên Hư trong cách Tang Hư Mã có Hình Kiếp Tuyệt, Lưu Thiên Việt tới Tị cung đồng độ Liêm Tham Kỵ Kiếp Tuyệt khởi phát tham muốn gắn với tai họa, do Lưu Thiên Mã trùng phùng đại tiểu vận, cách cục này chú ý tới tai nạn về xe cộ, cũng cách Vũ Sát mang ý nghĩa thất vọng, thất kinh, Phá Quân hóa Lộc không cát hóa nguyên cục, Hỏa Tinh kỵ với Thiên Cơ khi nhập vận, đặc biệt là Hỏa Hình Kiếp, đây là năm cần quan phòng thứ hai. Năm sau tức năm 2020, tiểu vận lưu tới cung độ Canh Tí. Lưu Kình Đào về Dậu cung. Lưu Khôi Việt tại Mùi Sửu, cách cục Kình Lưỡng Kiếp Đào Việt tăng tính phát động với Không Kiếp, chủ tranh đoạt, cũng là tiểu vận chuyển tiếp qua đại vận Vũ Sát. Năm sau sẽ là năm biến động mạnh của nam mệnh, Hỏa Tinh ngộ Phi Hổ Phượng trong cách Vũ Sát chủ có thể phát danh, hoạch phát trong năm này, tuy nhiên nên lưu ý về tính chất của Lưỡng Sát, Thiên Cơ có thể dụng Lưỡng Kiếp trong trường hợp bất hội Hỏa Linh, tại đây Hỏa Tinh đồng độ nhập vận. Tiểu vận lưu tới cung độ Cự Môn trong cách Cự Triệt, có tính chất phản kháng mạnh, Thiên Cơ kỵ tới cung độ Hỏa Tinh ắt có tổn thất khi mới nhập vận, nam mệnh hướng tới nghiên cứu về chuyên môn, cũng cần giữ thế chủ động, tinh tường với hoàn cảnh biến đổi. Năm Nhâm Dần tức năm 2022, lưu tiểu vận về Thân cung gặp cách cục Đồng Lương cư Thân giao hội Khôi Việt Quyền Kình Linh Kỵ Lộc, cách cục này chủ phát may khi có Thiên Việt, tuy nhiên Kình Linh Kỵ tăng mạnh tính xung đột của bố cục Vũ Sát, Đồng Lương phát may khi có Hóa Quyền tinh tường chế hóa tính chất của Vũ Sát. Đây là năm biến động cát hung tương bán, tốt do may mắn tạo bởi Đồng Lương Linh Quyền, hung họa tới do hành vận Vũ Sát Hỏa Kiếp Hình, tới tiểu vận Cơ Nguyệt Đồng Lương hội Kình Linh Kỵ Việt, cần cẩn trọng tai họa về thương tích, xung đột trong năm này. Trong năm Tị, lưu vận về Hợi cung gặp cách cục VCD nội Phủ Tướng ngoại Liêm Tham, cách cục VCD kiến Tam Không là cách cục khá tốt, do bất ngờ bên ngoài mang tới. Phủ ngộ Tam Không có Lộc Tồn bất lợi trong tình cảm, mối quan hệ.

     

     

    Qua đại vận Vũ Sát, nam mệnh lưu tới cung Thân nhập vận Đồng Lương từ 46 tới 55. Đây là đại vận hoạch phát thành tựu sự nghiệp của nam mệnh. Trong hành vận Vũ Sát với nhiều biến động, Thiên Cơ biến hóa linh hoạt cát hóa toàn bộ nhóm Sát tính, Hỏa Tinh tại bản cung khiến mệnh tạo có phần nóng nảy, quyết đoán. Hành vận Vũ Sát chịu áp lúc lớn, Phi Liêm trong cách Phi Kiếp Hình Tuế chủ hình thành nguyên tắc, lý tưởng hướng tới của mệnh tạo. Hành vận Đồng Lương chuyển vận tạo thời cơ lớn, do nhóm Khôi Việt kích phát, thành cách Đồng Lương Quyền Linh Kỵ Lộc, đứng đầu trong bố cục phát may và phát phúc. Thiên Đồng chủ phúc, Thiên Lương chủ ấm, bố cục mang ý nghĩa bất phạ tai ương cứu nguy cho bản mệnh nhiều lần trong giai đoạn Vũ Sát vận. Đồng Lương hội Quyền Linh Kỵ chủ hướng đi khác, có tính âm ám, thuộc ám quyền. Hành vận Vũ Sát lấy việc nghiên cứu khoa học, chuyên môn kỹ thuật, lấy phát danh làm trọng, dụng Quan cách. Hành vận Đồng Lương lấy Tài cách làm dụng. Cách cục cát hóa cực vượng, bố cục Sát đểu chế hóa. Trong hành vận Đồng Lương tức vận trung niên, nhị hợp của Đồng Lương là Liêm Tham, thể tính âm ám có thể lấy làm dụng. Đồng Lương cách kích động bởi Kình Linh, có tính chất khai sáng mạnh, khởi tạo cái mới theo khuynh hướng mạo hiểm ắt có lợi. Cách cục này tránh cầu may, hướng tới theo kế hoạch định sẵn, nắm cơ hội tránh do dự. Hành vận Đồng Lương phù hợp với khuynh hướng chính trị, cũng phù hợp với khuynh hướng kinh thương, thuộc cách cục Tài Quan lưỡng vượng. Lưu tiểu vận năm đầu tới Thìn cung, gặp cách cục Thái Âm độc tọa cư Thìn ngộ Kình Linh Kỵ, hội Khôi Việt Quyền Lộc, cách cục Âm Kình Linh có tính âm thầm chống đối, bố cục đại tiểu vận trùng phùng. Can Canh với Âm Đồng hóa Khoa Kỵ, Lưỡng Kỵ hình thành tăng mạnh tính âm ám, trong năm này có thể khởi tạo, Thái Âm chủ âm mưu, mưu kế, Thiên Cơ lưu vận tới đây thuận tranh đoạt. Lộc Tồn lưu về Thân cung, cách cục khá mạnh.

     

    Tiểu vận năm Tân Hợi, lưu vận tới cung độ Liêm Tham Không Kiếp Hình Tuyệt, hoàn cảnh bên ngoài biến loạn, cách cục Đồng Lương gặp bất lợi trước Không Kiếp, có Quyền tinh cát hóa tuy nhiên nên cẩn trọng, năm này có đột biến theo khuynh hướng không mấy hay. Tiểu vận năm Giáp Dần, đại tiểu vận trùng phùng cách cục Đồng Lương cư Thân. Can Giáp với Lưu Lộc Tồn tại Dần cung, bố cục Thân Tí Thìn gặp Thanh Phi Phục. Cách cục Đồng Lương Thanh Kỵ Quyền Linh là cách cục khá hay, Liêm Trinh nhị hợp hóa Lộc, chủ Lộc ám, đây là năm gặp may mắn với nam mệnh, cách cục đại tiểu vận tốt đẹp. Tiểu vận năm Ất Mão, cách cục Vũ Sát ngộ Hỏa Tinh có Bạch Hổ đồng cung, cách cục chủ hung, trong năm này cần lưu ý tới sức khỏe, bệnh tật, cũng tránh đầu tư trong năm này. Năm Mậu Ngọ, lưu niên vận về Mệnh cung, Thiên Cơ tự hóa Kỵ, cách cục Lưỡng Kỵ hình thành, Lưu Thanh Phi Phục về Mệnh Tài Quan, Kỵ tinh thành cách, bố cục dễ tranh đoạt lợi ích, tạo mâu thuẫn, tuy nhiên ý nghĩa khá tốt. Các năm còn lại bình thường trong bố cục Đồng Lương mang ý nghĩa phúc ấm tốt từ đại vận tác động. Qua vận Đồng Lương là vận then chốt, nam mệnh lưu tới cung vận Thiên Tướng độc tọa cư Mùi. Hành vận Thiên Tướng là vận ổn định, cách cục Phủ Tướng hội Lộc Mã giao trì không gặp phá cách, chủ về có thể phát phú, tích lũy trong vận này. Cách cục Phủ Tướng cần thiết hội Tả Hữu tăng tính chất phò tá cho nhóm sao này. Tại đây Thiên Tướng ngộ Triệt Bệnh mang ý nghĩa tốt với bệnh tật, chủ phòng trừ được các bệnh nặng, tai ách. Đại vận Thiên Tướng nhập cung vận Tật Ách bình ổn, nam mệnh sau hành vận Đồng Lương phát phú và quý cách qua vận Thiên Tướng là giai đoạn an nhàn. Lá số nam mệnh gặp hai hành vận Vũ Sát và Đồng Lương là hai vận thăng trầm, họa qua tới phúc. Lưu ý hành vận Vũ Sát có thể dụng kích phát bởi tính chất Không Kiếp Hình Hỏa, tuy nhiên bố cục này có tính nguy hiểm với mệnh Thiên Cơ do Hỏa Tinh ngộ Vũ Sát tại bản cung tạo áp lực, đè nén rất lớn tới nội tâm khi gặp thất bại lớn do hoàn cảnh, chủ tai họa tới bất ngờ như phá sản, phá tán, hoặc tai họa về công danh. Thường cách cục Vũ Sát hội Không Kiếp mang ý nghĩa xấu về tài sản hơn công danh. Với Thất Sát có thể chế hóa Không Kiếp, tuy nhiên tại đây là Thất Sát ngộ Bạch Hổ là tai ương, còn mang ý nghĩa không mấy hay chủ mổ xẻ, phẫu thuật do bệnh tật khởi từ cách cục Liêm Tham cần rất chú ý. ” Ngũ thập tri thiên mệnh”. Nhân mệnh khi vào vận lão niên, nắm rõ được số mệnh của bản thân, lưu tới cung độ Tật Ách hoặc Nô Bộc cung tùy hành vận tức lo lắng về bệnh tật, hoặc xã hội nhìn tới nhân mệnh. Cung độ Tật Ách không gặp Sát Kỵ giao hội mang ý nghĩa hay, có thể phát triển thêm công danh dựa vào khí hình vận của Đồng Lương. Cuộc đời nam mệnh ứng với trung vận sẽ biến động lớn, cũng là vận năm sau gặp cách Vũ Sát. Lưu ý bố cục Vũ Sát Phi Hỏa Kiếp Không Hình Tuyệt là cách cục mang ý nghĩa xấu tới bản mệnh, nên hướng tâm tới nghiên cứu tri kiến về sách vở, tri thức làm chú trọng tạo tiền căn hoạch phát vận Đồng Lương, với Tài cách cần tránh việc tham muốn giàu có nhanh chóng phá nguyên cục, cách cục Sát cách tác động họa phá tán.

  • Người phú quý đất Nam Dương, hai mươi tám tướng, không lẽ người nào cũng được cung lục hợp. Quân bị chôn ở đất Tràng Bình, bốn chục vạn người không hẳn người nào cũng bị hạn tam hình”.

    Hai lá số đều bị Lục Sát Tinh xâm phạm nhưng một kẻ thì dụng được Sát Tinh hóa Sát vi Quyền mà có được thiên hạ, kẻ kia tử nạn nơi chiến trường. Bí mật của họa phúc nằm không phải ở số mệnh mà do chính bản thân ta vô tình chọn do hoàn cảnh ngoài thực.

  • Thông tin tài khoản

    Đăng ký thành viên

    Hỗ trợ trực tuyến

    Hỗ trợ trực tuyến
  •              Hộp Thư Đến :       luantuvidonga@gmail.com

  • Thống kê truy cập

    Hôm nay 5

    Hôm qua 213

    Tất cả