• Tử vi Đông A

    Lớp Học Nghiên Cứu Tử Vi Đông A


     

     

    Nhân mệnh khởi nguyên, hình thành thể tính bên trong và bên ngoài, tức ứng với tư tưởng và thân thể. Chịu tác động của Âm Dương và Ngũ Hành. Tính cách phân định dựa trên thế định của Âm Dương Ngũ Hành tới bản tính, như bộc trực chứa dương, mưu lược chứa âm, thay đổi liên tục qua hành vận. Âm Dương là nguyên tắc đầu của dịch lý, cũng là quy luật của vạn vật vô tình tới hữu tình. Phân tương ứng với ngũ hành tượng trưng Kim Thủy Mộc Hỏa Thổ. Tất cả vạn vật luôn chuyển động, không ở thể tĩnh do đó tính chất luôn biến động, thay đổi.  Cổ nhân suy xét tới tính quy luật của biến hóa Âm Dương Ngũ Hành để luận nhân mệnh. Khi suy xét sức biến hóa nhận thấy sinh, chế, khắc dẫn tới thế Sinh Vượng Suy Tuyệt là tất yếu, đây là nguyên vòng Trường Sinh. Như sự tác động của Nhật Nguyệt, dẫn tới quy luật vận hành của thủy triều tác động theo thời gian, có thể dự đoán thời điểm và kết quả của nước. Nhân mệnh cũng vậy, từ thế cục sinh khởi nhập Mệnh cách tại thời điểm ra đời, từ đó đưa ra dự đoán cát hung thành bại theo các biến đổi của tư tưởng. Nhiều nhân mệnh hợp thành xã hội. Sự tác hóa dòng khí của Âm Dương Ngũ Hành với tiền nhân nghiên cứu uyên thâm dịch lý lưu hóa thành các môn toán mệnh, tử vi lấy tượng là tinh đẩu để luận mệnh. Trên thiên bàn, Lộc Tồn là vị trí Lâm Quan của vòng Trường Sinh khởi từ Thiên Can. Mệnh an tại Lộc Tồn chịu tác động mạnh của tính chất tinh đẩu này, lấy làm bản nguyên của mệnh. Tư tưởng  từ bản tính, về sau hình thành ý thức, chịu tác động kế tiếp do các vận hành tác động luôn lấy bản nguyên để luận biến hóa. Khi khởi sinh tác động do bản năng, bản tính, dần tập nhiễm tức Mệnh. Về sau tư tưởng ý thức sự tác động mạnh của Thân. Xét Mệnh Thân là hai thế bản nguyên và tự ý thức phối hợp với hành vận để luận số. Tuy nhiên khi xét luận đời sau, tính chất của Chính Tinh và Sát Tinh nhận định sai biệt do man thư, lại thay đổi một số cách an sao, mỗi nơi một cách, dẫn tới dị biệt ắt xó đúng sai. Phân định cách cục mệnh đã nhiều cách xét, ở thế tĩnh chưa xét tới lưu vận biến động thay đổi tính chất khi giao hội đã sai lầm, khiến tử vi ở thế suy. Đặc biệt Sát Tinh gồm Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp luận hung hiểm, họa sát thân, tai kiếp tại các câu phú ” Địa Kiếp thủ mệnh thị kỷ phi nhân”. ” Địa Kiếp Địa Không thân mạo gian phi chi hạnh”. ” Sinh lai bần tiện Kiếp Không lâm Tài Phúc chi hương”. ” Kiếp Không giáp mệnh phi yểu tắc bần”. Thực tế là các cách cục giao hội phá cách của Không Kiếp. 

     

     

    Các Sát tinh có tính chất biến hóa phức tạp, khi chế hóa thành cách ” Không Kiếp Tị Hợi miếu vì, hoạch phát hoạch phá tựa thì sấm ran”. ” Kiếp Không Tị Hợi lưỡng nghi, Mão Dậu Hình Diêu tốt cát”. Các Chính Tinh như Phá Quân, Thiên Tướng, Cự Môn có thể dụng Không Kiếp. Tuy nhiên phân định các trường hợp riêng rẽ. Cự Môn trong thế Cự Cơ Đồng hội Không Kiếp lại phân có Kình Hao, Đà Hao khác với giao hội Lộc Tướng Ấn. Bản chất của cách cục Cự Cơ Đồng hội Không Kiếp là thế khai phá bế tắc do thời vận đột biến. Thế Cự Nhật hội Không Kiếp là cách cục mang ý nghĩa không mấy tốt. Lại Không Kiếp tại các cung độ hình thành thế cục khác nhau. Trợ tinh Tả Hữu giao hội luận khác. Lại người mới nghiên cứu thường xét lá số tử vi là thế tĩnh hóa, lấy các cung độ riêng rẽ khi hành vận đi qua để luận, không rõ sức phối hợp của Mệnh cách khi lưu vận tác động. Như mệnh Phá Quân tới Đại vận gặp Thiên Lương ngộ Lưỡng Lộc cho là tốt đẹp, tới vận Thiên Phủ hội Không Kiếp cho là xấu. Tử Vũ Liêm hội Sát Phá Tham can Giáp đắc Khoa Quyền Lộc Khôi Việt xét thượng cách. VCD có Cự Cơ xung gặp Tồn Kiếp Kỵ Hình là xấu. Lại cách cục Thất Sát hội Diêu Đà Kỵ tức đủ bộ Kỵ Hình thường luận yểu mạng do ” Kỵ Hình Thất Sát tương phùng, thiếu niên yểu chiết như dòng Nhan Uyên”. Tổ hợp Sát luận biến hóa vô cùng, khi định cách cục thường nhầm lẫn dẫn tới nhiều cách cục tốt đẹp xét luận mệnh yểu tử. Đây là điểm yếu khi luận tử vi. Lại xét mệnh cách không rõ khí hình gốc vận, mệnh Tử Phủ hội Khoa Quyền Lộc đánh giá tốt. Mệnh Tử Tướng hội Không Kiếp Kỵ Hình luận xấu. Thực tế sức tác hóa của bố cục Sát rất lớn, chỉ cách Hỏa Tham Tồn Không là bố cục phát phú. Cách cục VCD xung Cự Cơ Kình Kỵ Phượng phát danh. Bố cục Phá Tồn Kỵ Ấn nếu không xuất ngoại ắt khó thành nghiệp lớn. Lại xét tới vận hành, nếu Mệnh Vận tương hợp, hoạch phát như lôi. Nhân mệnh là thể tích lũy, tư tưởng biến đổi qua từng hành vận. 

     

     

    Khí hình đặc trưng bởi tham muốn, phát khởi biến hóa theo vận, cách Hỏa Tham Không Tồn tốt do không ngừng tham cầu Tài cách. Lại nếu giao hội Văn Cách tại đây thành phá bại. Nếu có Văn Khúc đồng độ suy giảm, nếu có Văn Xương đồng độ là cách cục đại phú. Vật cực tất phản, thế Sát viễn hóa, cả đời Tử Phủ Lưỡng Lộc Xương Khúc tích lũy không bằng một khoảng Tướng Không Kiếp Kình Kỵ Quyền bạo phát, Thiên Lương may mắn trong thế Dương Lương cư Mão hội Xương Lộc. Cát tinh và Sát tinh không nên phân định, chỉ nên luận là tinh đẩu, quan trọng giao hội thành cách. Lại xét tới tổ hợp cung trọng điểm. Nếu hình thành Cự Đồng Kình Quyền Không Kiếp Tả Hữu đắc vòng Trường Sinh tức thuộc tinh hệ Tử Vi cư Ngọ. Mệnh cách an vị trí bất kỳ đều là mệnh quý. Do Không Kiếp Kình được chế hóa. Tử Phủ Vũ Tướng Liêm và Âm Dương Lương ắt hoàn chỉnh không bị phá cách. Tử vi luận thời có sai biệt, trong chiến loạn đứng đầu là cách cục VCD có Cự Cơ xung, Tử Tướng và Tử Sát. Bố cục Sát hóa Quyền nắm lệnh. Trong thời phong kiến bình ổn thế cục Tử Vi cư Ngọ, Tử Phủ Dần Thân, Liêm Phủ Thìn Tuất nắm lệnh do tính chất của xã hội. Nếu mệnh cách khí hình bình hòa hoặc suy, tức xuất thân ở vị trí thấp. Nếu không hình thành thế cục Sát chế hóa, lại hội cách cục cát tinh bình ổn, ứng tư tưởng bằng lòng với cuộc sống, ở thế bị động thì khó có thể tạo dựng cơ nghiệp lớn. Với các bố cục này, Tử Vi Đông A đã nghiệm lý thực tế nhiều cách cục từ tiền nhân tới nay. Nắm được cốt tủy tinh chất giao hội của Sát cách, các tinh đẩu và khí hình luận tức nắm được phân nửa luận tử vi. Trong hiện thời, tính bình đẳng cơ bản của mỗi nhân mệnh trong xã hội. Định Sát cách và chế hóa Sát luận càng rõ. Chữ thời ứng với dụng Sát cách. Lá số tử vi là lá số tĩnh, nhân mệnh luôn vận động. Không có Sát dẫn thì không có tham muốn. Không có tham muốn thì khó có thành tựu. Thời vận một phần do nhân tạo là phần quan trọng của Tử Vi Đông A. Thời chiến loạn, vạn Thất Sát theo binh nghiệp, chỉ một kẻ thành tựu sự nghiệp. Mệnh cách Vũ Tham Lưỡng Lộc Khoa Khúc theo Văn cách uổng mệnh đại phú. Mệnh cách Vũ Phá hội Không Kiếp Hình Ấn Quyền Khôi  dụng Tài cách mất đi một tướng tài. Bởi vậy người luận tử vi sai lầm ” Nhất yểu, nhị bần, tam vô tự”. Do vậy nghiệm lý là nguyên tắc của người luận tử vi. Trong thời man thư lưu truyền, chưa luận tới lá số, xét an sao nhiều cách đối lập, đặt sao Thiên Không trước Thái Tuế, Thiên Không Không Vong thành Địa Không, an Khôi Việt, Tứ Hóa, Hỏa Linh, Kình Đà mỗi nơi mỗi khác. Lại thêm nhiều sao cứu giải khiến lá số tử vi trở nên phức tạp, nơi hung hiểm luôn được cứu giải bởi các sao mới. Người nghiên cứu tử vi nên nghiệm lý sâu rộng tránh gặp sai lầm. Tử vi là nội thể, tức mỗi nhân, tư tưởng của bản thân tác động hợp hóa với hoàn cảnh theo khí hình tạo kết quả ngoài thực. Nếu nhân mệnh trừ trường hợp sinh khởi đặc biệt gặp bệnh tật nan y, hoặc tai kiếp do vận làng, vận nước tác động mạnh có thế thay đổi tư tưởng. Lá số tử vi liên quan mật thiết tới tính cách, tùy từng hoàn cảnh phát sinh ra bên ngoài khác nhau. Như cùng một mệnh cách phát phú, nếu mệnh tạo sinh khởi tại đất nước kém phát triển và sinh khởi tại đất nước giàu có tuy đại đồng nhưng tiểu dị. Sự thành tựu ở tính tương đối, tuy nhiên về cát hung, giai đoạn hoạch phát, hoạch phá ứng hợp sẽ không sai khác. 

    “Người phú quý đất Nam Dương, hai mươi tám tướng, không lẽ người nào cũng được cung lục hợp. Quân bị chôn ở đất Tràng Bình, bốn chục vạn người không hẳn người nào cũng bị hạn tam hình”.

    Tử vi luận bản chất bố cục tinh đẩu là phát khởi tổng quan, do đặc điểm mỗi xã hội mà ứng hợp. Do đó người nghiên cứu tử vi nắm rõ tính chất cơ bản của bố cục để xét đoán thì nắm được cốt tủy của tử vi. Trước khi luận tử vi tới người, nên tự suy xét nghiệm lý chính cuộc đời của bản thân. Người viết luận tử vi qua nhiều năm cũng tích lũy nghiệm lý được một phần nhỏ trong tri kiến thậm thâm về toán mệnh, cũng đã giai đoạn Suy Bệnh, sức khỏe tật ách cũng tới, kiến thức cũng đã lưu lại tại các bài viết trang nhà, tuy nhiên cũng có một phần khó có thể phân định sâu về bố cục định cách và sức tiếp cận nghiên cứu của mỗi người nghiên cứu tử vi có sai biệt, đặc biệt ở người mới nghiên cứu tử vi, đọc các sách tử vi lưu truyền hiện nay.  Độc giả đăng ký lớp nghiên cứu tử vi hữu duyên với huyền học nếu không gặp vấn đề ở Nguyên Tắc Cốt Tủy của Đông A Phái luận, tránh tạo tác sai lầm khi luận, lớp học đóng góp phí tài trợ duy trì Hội Quán Tử Vi.

    Khi đăng ký lớp nghiên cứu tử vi luận theo Tử Vi Đông A lấy bố cục suy xét làm trọng, phân hai giai đoạn. Thứ nhất là Luận sơ khởi cơ bản. Thứ hai là Luận định cách chuyên sâu. Tổng thời gian tùy sở luận tri kiến của người học thường khoảng 6 tháng. Tử Vi Đông A lấy nghiệm lý làm trọng, khi người hữu duyên có thể đăng ký theo mẫu sau  :

    1.Họ và tên: 
    2.Giới Tính: 
    3.Email: 
    4.Tứ Trụ : Giờ – Ngày – Tháng – Năm. 
    5.Vị Trí Địa Lý (Các nơi ở quá khứ và hiện tại ): 
    6.Nghề Nghiệp: 
    7. Gia đình : nghề nghiệp Phụ Mẫu.

     

    Gửi tới hộp thư : luantuvidonga@gmail.com

     

  • Người phú quý đất Nam Dương, hai mươi tám tướng, không lẽ người nào cũng được cung lục hợp. Quân bị chôn ở đất Tràng Bình, bốn chục vạn người không hẳn người nào cũng bị hạn tam hình”.

    Hai lá số đều bị Lục Sát Tinh xâm phạm nhưng một kẻ thì dụng được Sát Tinh hóa Sát vi Quyền mà có được thiên hạ, kẻ kia tử nạn nơi chiến trường. Bí mật của họa phúc nằm không phải ở số mệnh mà do chính bản thân ta vô tình chọn do hoàn cảnh ngoài thực.

  • Thông tin tài khoản

    Đăng ký thành viên

    Hỗ trợ trực tuyến

    Hỗ trợ trực tuyến
  •              Hộp Thư Đến :       luantuvidonga@gmail.com

  • Thống kê truy cập

    Hôm nay 6

    Hôm qua 213

    Tất cả